Đánh giá Sigma 35mm F1.4 DG II ART – Ống kính 35mm xuất sắc đến từ Sigma
Là một trong những ống kính 35mm được người dùng yêu thích và kỳ vọng, Sigma 35mm F1.4 DG II ART mang trong mình những thay đổi đáng giá không chỉ đến từ thiết kế mà còn là hệ thống lấy nét tiên tiến và hệ thống quang học phức tạp, đảm bảo hiệu suất hoạt động vượt trội và chất lượng hình ảnh ấn tượng. Trong bài viết này, hãy cùng Anh Đức Digital trải nghiệm và đánh giá tổng thể ống kính chất lượng này nhé.

Thông số ống kính Sigma 35mm F1.4 DG II ART
- Tiêu cự: 35mm
- Ổn định hình ảnh: Không
- Hệ ngàm: L-Mount, Sony FE Mount
- Dải tiêu cự: F1.4 – F16
- Vòng khẩu độ: có
- Số lá khẩu: 11 cánh
- Hệ thống quang học: 15 thấu kính chia thành 12 nhóm
- Thấu kính đặc biệt: 4 thấu kính phi cầu và 2 thấu kính tán sắc thấp
- Động cơ lấy nét: động cơ tuyến tính lấy nét trong
- Đường kính bộ lọc: 67mm
- Trọng lượng: 530g
- Kích thước (đường kính x chiều dài): 72 x 94mm
Đánh giá ống kính Sigma 35mm F1.4 DG II ART về thiết kế
Thiết kế và thông tin tổng quan
Đối với các ống kính dành cho các máy ảnh không gương lật thuộc thế hệ thứ 2, Sigma đặt mục tiêu là sẽ tối ưu đáng kể hơn nữa kích thước và trọng lượng của chúng. Và Sigma 35mm F1.4 DG II ART cũng làm được điều tương tự khi không chỉ giảm được 14% chiều dài so với phiên bản 35mm F1.4 DG DN (94mm so với 109mm),mà trọng lượng cũng giảm đến 20% (530g so với 645g). Giờ đây ống kính 35mm mới này cũng chỉ nặng ngang bằng với ống kính của Sony GM giúp Sigma có được những lợi thế đặc biệt của một hãng thứ ba.

Không chỉ vậy, Sigma 35mm F1.4 DG II ART cũng có thiết kế phần vỏ gọn gàng và thanh lịch như các ống kính được ra mắt năm 2025 tại một số chi tiết và phông chữ. Nhờ vào việc giảm kích thước ống kính mà đường kính bộ lọc cũng được giảm về 67mm, một kích cỡ bộ lọc có mức giá phải chăng trên thị trường. Ống kính có cấu trúc chống bụi và nước bắn bao gồm vòng đệm cao su ở phần ngàm, các lớp niêm phong tại các chi tiết nhạy cảm và lớp phủ đặc biệt ở thấu kính mặt trước để ngăn bám bẩn, hơi ẩm hoặc dấu vân tay.
Bên trong ống kính là hệ thống vòng khẩu độ với 11 lá khẩu giúp duy trì hình dạng bokeh tròn đẹp khi khép khẩu. Đồng thời, khoảng cách lấy nét tối thiểu của ống kính chỉ 28cm, gần như ngắn hơn so với các ống kính bên thứ 3 khác như Viltrox (34cm) hay Sirui Aurora 35mm F1.4 (35.5 cm),nhưng vẫn chỉ thua một chút so với ống kính của Sony GM (25cm).

Hệ thống điều khiển
Ống kính Sigma35mm F1.4 DG II ART sở hữu hệ thống điều khiển tiêu chuẩn của những ống kính cao cấp với vòng điều khiển khẩu độ và nút tùy biến. Đối với vòng khẩu độ, nó nằm gần phía đuôi ống kính, được khắc các giá trị khẩu độ rõ ràng với các điểm chia 1/3 stops và nấc Auto ở cuối vòng. Người dùng sẽ có công tắc khử nảy để xoay vòng mượt mà hơn cho việc quay phim và công tắc khóa khẩu độ cố định ở một vị trí để ngăn người dùng thao tác nhầm. Các công tắt này được đặt ở các vị trí đặc biệt nhằm tránh người dùng chạm vào khi không cần thiết.

Nằm giữa ống kính là công tắc AF/MF cùng với hai nút tùy biến chức năng Fn/Custom ở bên trên và bên trái ống kính theo hướng máy để thao tác khi chụp ảnh ngang và dọc. Các chức năng của nút có thể được tùy biến trên máy ảnh. Thành phần cuối cùng là vòng lấy nét thủ công rất rộng, thiết kế đẹp với lớp cao su có phần vân nhỏ tăng độ bám. Vòng MF này có tính năng cho phép chuyển sang lấy nét thủ công ngay sau khi hoàn thành lấy nét tự động, điều mà không phải tất cả các ống kính đều có.
Phụ kiện
Khi mua ống kính Sigma 35mm F1.4 DG II ART, người dùng sẽ nhận được loa che nắng và hộp đựng có lớp đệm bên trong để chống sốc cho ống kính. Loa che nắng có dạng hình cánh sen làm bằng nhựa và phần cao su với phần vân mỏng giúp dễ cầm và tháo, đồng thời có cơ chế khóa vặn với nút mở nằm trên phụ kiện này.

Đánh giá ống kính Sigma 35mm F1.4 DG II ART về khả năng lấy nét
Lấy nét khi chụp ảnh
Giống như ống kính 35mm F1.2 DG II ART, Sigma trang bị cho ống kính 35mm F1.4 DG II ART hệ thống động cơ lấy nét HLA kép. Sigma đã giới thiệu loại động cơ này vài năm trước nhưng cũng chỉ mới áp dụng cơ cấu hai động cơ HLA lên các ống kính cao cấp của mình trong thời gian gần đây. Sự đột phá này không chỉ giảm kích thước ống kính so với thế hệ ống kính ART đầu tiên, mà còn tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ đối với các ống kính Sony GM hay Viltrox, vì hệ động cơ này có lực đẩy rất mạnh nên việc di chuyển các thấu kính lấy nét lớn diễn ra nhanh chóng.

Trong thử nghiệm lấy nét khi chụp ảnh, ngay cả khi chụp ở khẩu độ lớn nhất F1.4 hay trong nhiều điều kiện ánh sáng phức tạp, Sigma 35mm F1.4 DG II ART có khả năng lấy nét tốt và ít khi bị trật nét. Ngay cả khi chủ thể di chuyển ra khỏi khung hình rồi trở lại, ống kính vẫn lấy nét chính xác và duy trì liên tục độ chính xác khi lấy nét. Tuy vẫn có một số hạn chế với tốc độ chụp liên tục khi lấy nét chỉ 15fps trên các máy ảnh Sony, nhưng độ chính xác khi lấy nét của ống kính vẫn rất tốt.
Sigma 35mm F1.4 DG II ART có tốc độ phản hồi khi người dùng ấn nửa cò chụp rất nhanh và gần như ngay tức thì nhưng lại không phát ra âm thanh nào hay sự giật cục nào khi chuyển nét. Các chủ thể rất hẹp cũng không hề gây khó khăn cho ống kính này. Ngoài ra, ống kính cũng có chế độ đè nét thủ công khi người dùng muốn chuyển nét sang vị trí phù hợp ngay sau khi kết thúc quá trình lấy nét để đảm bảo lấy nét chính xác.

Lấy nét khi quay phim
Khi thử nghiệm quay phim với ống kính Sigma35mm F1.4 DG II ART, khả năng lấy nét của ống kính này tương đối ấn tượng với tốc độ lấy nét nhanh và độ chính xác cao, đặc biệt là hiện tượng ống kính thở được kiểm soát tốt hơn nhiều so với các ống kính 35mm, kể cả đối với ống kính Sony GM vốn nổi tiếng với hiện tượng này. Thay vào đó, Sony chọn cách cắt một phần nhỏ khung hình để bù trừ cho hiện tượng thở, khi khung hình đối khi chật hơn một chút. Do đó, Sigma hoàn toàn có lợi thế khi giữ được trường nhìn rộng chân thực nhất.
Trong quá trình chuyển nét giữa hai vị trí, ống kính không xuất hiện hiện tượng lấy nét nhảy bước hay theo xung giật nào mà các thấu kính lấy nét được di chuyển đến điểm nét ổn định và chính xác. Khi lấy một vật thể che ống kính và sau đó mở ra để ống kính tìm về vị trí lấy nét cũ, tốc độ chuyển nét diễn ra đều và quá trình chuyển đổi tương đối mượt mà. Kể cả khi người dùng rời khỏi và trở lại khung hình, ống kính hoàn toàn có thể thích ứng nhanh để lấy nét nhanh nhất.
Đánh giá ống kính Sigma 35mm F1.4 DG II ART về chất lượng hình ảnh
Ống kính Sigma 35mm F1.4 DG II ART có cấu trúc quang học đơn giản hơn một chút so với phiên bản F1.2 II, nhưng vẫn đủ phức tạp đối với một ông kính cao cấp. Cụ thể, nhà sản xuất trang bị cho ống kính hệ thống quang học gồm 15 thấu kính chia thành 12 nhóm, bao gồm 4 thấu kính phi cầu và 2 thấu kính tán sắc thấp, cho hiệu suất phân giải hình ảnh đạt mức tương đối tốt ngay cả ở vùng rìa ảnh.

Hiện tượng quang sai
Nếu các ống kính góc rộng của Sigma được nhiều người dùng đánh giá là phụ thuộc nhiều và hiệu chỉnh kỹ thuật số, nhưng với ống kính 35mm F1.4 DG II ART lần này, nhà sản xuất đã tối ưu mạnh hơn vào hệ thống quang học. Thực nghiệm trên máy ảnh của Sony cho thấy, ống kính chỉ có hiện tượng méo hình lồi tâm ở mức độ rất nhỏ và chỉ cần một chút hiệu chỉnh trên phần mềm hậu kỳ. Tuy nhiên, hiện tượng tối góc thực sự rất mạnh và cần phải hiệu chỉnh đên 3 stops mới có thể giúp phần rìa trở về trạng thái tốt nhất.

Sigma đã hỗ trợ thông tin cấu hình đầy đủ cho cả ngàm Sony E và ngàm L nên nhưng vẫn đề trên không phải là vấn đề lớn. Hiện tượng quang sai màu dọc sẽ xuất hiện dưới dạng một lượng nhỏ viền màu xanh ở vùng tiền cảnh trước mặt phẳng nét, nơi có các chi tiết có độ tương phản cao. Các quang sai ngang xuất hiện tại các cạnh của khung hình gần như không xuất hiện, đồng thời không xuất hiện viền màu nào tạo các vùng sáng mạnh của ảnh. Phần lớn các vùng chuyển tiếp trong ảnh đều trung tính.
Nhìn chung, ống kính 35mm F1.4 mới này cho thấy nỗ lực của Sigma trong việc tối ưu vào hệ thống quang học với các công nghệ tiên tiến để xử lý đáng kể các quang sai trước khi áp dụng hiệu chỉnh bằng phần mềm, mặc dù hiện tượng tối gói là một vấn đề khá đáng kể.

Độ phân giải và độ tương phản
Để kiểm tra khả năng phân giải hình ảnh, thử nghiệm được thực hiện trên máy ảnh Sony a7RV 61MP. Các kiểm nghiệm cho thấy hình ảnh đạt độ sắc nét vượt ngoài mong đợi tại vùng trung tâm của khẩu độ F1.4, mặc dù vùng rìa ảnh có thể chưa đạt độ sắc nét tương đương. Việc giảm khẩu độ dần về F2.8 tạo ra sự cải thiện đáng kể về độ tương phản hình ảnh và độ sắc nét ở các vùng rìa và góc. Độ sắc nét toàn ảnh trên ống kính này rất tốt ngay cả ở khẩu độ lớn nhất nên việc giảm khẩu độ từ F2.8 về F8 không tạo ra sự cải thiện nào đáng kể hơn nữa vì hình ảnh gần như đạt đỉnh về độ nét.

Người dùng khi chụp ảnh nên tránh giảm khẩu độ về F11 vì hiện tượng nhiều xạ sẽ làm giảm độ tương phản và hiện diện rõ rệt hơn ở khẩu độ tối thiểu F16.
Khả năng chống lóa sáng và bóng mờ
Sigma 35mm F1.4 DG II ART đã có sự cải thiện về khả năng chống lóa sáng và bóng mờ nhờ vào lớp phủ AAC (Advanced Amorphous Coating) mới của Sigma. Lớp phủ này hoạt động rất tốt trong việc giảm thiểu hiện tượng lóa sáng, đặc biệt khi hướng ống kính về phía nguồn sáng mạnh như mặt trời hay chụp ngược sáng mà vẫn giữ được độ tương phản tốt và không có vùng bóng mờ.

Hiệu ứng bokeh của ống kính này thì thoảng sẽ có một chút quầng sáng bong bóng xà phòng xung quanh các vùng sáng và xảy ra hiện tượng bokeh mắt mèo ở khẩu đô lớn. Tuy vậy hiệu ứng xóa phông vẫn cho vùng hậu cảnh sạch sẽ, mượt mà, mềm mại và không có hiện tượng loang màu. Ống kính này làm rất tốt trong việc tạo ra sự tách biệt tự nhiên giữa chủ thể và hậu cảnh với vùng chuyển tiếp nét tương đối tự nhiên.

Tổng kết chung về Sigma 35mm F1.4 DG II ART
Ống kính Sigma35mm F1.4 DG II ART cho thấy sự hoàn thiện hơn về nhiều mặt của ống kính thế hệ thứ hai so với thế hệ đầu tiên. Bên cạnh việc tối ưu thiết kế giúp ống kính nhỏ và nhẹ hơn để cạnh tranh với các ống kính G Master của Sony, Sigma đã có sự cải thiện về hệ thống lấy nét tự động nhờ vào hệ thống động cơ tuyến tính HLA kép và cải thiện hệ thống quang học phức tạp của mình. Nhờ điều này mà ống kính không chỉ có khả năng lấy nét nhanh và chính xác, phản hồi ngay lập tức, mà chất lượng hình ảnh đã có sự cải thiện mạnh mẽ, mặc dù vẫn tồn tại các nhược điểm nhỏ không quá đáng kể














































